Ngày 22/8, Tổng cục Hải quan tổ chức họp báo chuyên đề về việc thực hiện Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Đại diện lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế chủ trì cuộc họp báo. Ảnh: H.Nụ

Phát biểu tại cuộc họp báo, bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế cho biết, Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại của WTO (TFA) được các nước thành viên WTO thống nhất thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 9 (7/12/2013) tại Bali (Indonesia) và trở thành một phần của hệ thống các Hiệp định bắt buộc của WTO từ tháng 11/2014.

Ngày 22/2/2017, Hiệp định TFA đã chính thức có hiệu lực sau khi được 110/164 quốc gia thành viên phê chuẩn. Đây là một thỏa thuận đa phương đầu tiên được ký kết trong lịch sử 21 năm của WTO, là cột mốc quan trọng đối với hệ thống thương mại toàn cầu và là sự khích lệ đối với quá trình tự do hóa thương mại đang gặp nhiều khó khăn hiện nay do vấp phải chủ nghĩa bảo hộ thương mại.

Theo báo cáo thương mại thế giới 2015, việc thực hiện đầy đủ Hiệp định TFA có thể giảm trung bình 14,3% chi phí giao dịch và thúc đẩy tăng trưởng thương mại toàn cầu lên tới 1 nghìn tỷ USD mỗi năm. Hiệp định TFA cũng được đánh giá có khả năng tiết kiệm 1,5 ngày thời gian thông quan hàng NK, giảm 47% so với mức trung bình hiện tại và tiết kiệm gần 2 ngày thời gian thông quan hàng hóa XK, giảm 91% so với mức trung bình hiện tại.

TFA cũng là Hiệp định đầu tiên trong lịch sử WTO mà các nước thành viên có thể quyết định lộ trình lộ trình thực hiện cam kết của riêng mình và quá trình thực hiện được liên kết một cách rõ ràng với năng lực kỹ thuật và tài chính. Kể từ sau khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam đã tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm thực thi các cam kết của Hiệp định.

Theo bà Nguyễn Thị Việt Nga, Hiệp định TFA giúp đẩy nhanh quá trình cải cách thủ tục hải quan, đơn giản và chuẩn hóa, tăng cường tính minh bạch trong quy trình thủ tục hải quan, hỗ trợ DN nhỏ và vừa bước đầu XK, thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động sản xuất và XK ra thị trường nước ngoài.

Trong đó, Hiệp định TFA với nội dung nhằm thúc đẩy tạo thuận lợi cho hoạt động vận chuyển, thông quan, giải phóng hàng hóa XNK và quá cảnh sẽ giúp DN cắt giảm thời gian và chi phí thông quan, tăng cường năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh XK và qua đó góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước. Theo tính toàn các nước thành viên WTO, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, việc thực thi đầy đủ TFA dự kiến sẽ góp phần thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng XK thêm 3,5% và tăng trưởng kinh tế thêm 0,9%/năm.

Bên cạnh những cơ hội mang lại, việc triển khai Hiệp định TFA cũng đặt ra những khó khăn thách thức trong bối cảnh năng lực đội ngũ và trình độ công nghệ của Việt Nam còn hạn chế, chưa đáp ứng được toàn bộ yêu cầu đổi mới và cải cách theo nội dung Hiệp định TFA. Bà Nguyễn Thị Việt Nga cũng cho rằng, yêu cầu cải cách thủ tục liên quan đến thương mại tại biên giới đòi hỏi sự tham gia không chỉ của cơ quan Hải quan mà cả sự tham gia của các cơ quan quản lý chuyên ngành để tăng cường hiệu quả quản lý, thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại.

Để cơ chế này hoạt động hiệu quả là một thách thức trong điều kiện mức độ đồng bộ hóa về cơ sở hạ tầng công nghệ cũng như năng lực đội ngũ cán bộ của mỗi cơ quan là khác nhau. Trên thực tế, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành các các cơ quan biên giới khác với hải quan cũng là một trong những vấn đề vướng mắc nhất trong quản lý hoạt động XNK hàng hóa của Việt Nam.

Mặc dù phần lớn các nghĩa vụ trong Hiệp định TFA đã tương thích với pháp luật Việt Nam, vẫn còn có những điều khoản chưa có quy định rõ ràng, chi tiết trong quy định pháp luật trong nước, đặc biệt là các cam kết có đòi hỏi sự tham gia của các cơ quan quản lý chuyên ngành ngoài cơ quan Hải quan nên để có thể triển khai đầy đủ, thực chất và đúng theo các cam kết của Hiệp định TFA cần những nỗ lực không nhỏ trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật hiện hành đáp ứng yêu cầu của Hiệp định.

Trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan với vai trò là cơ quan đầu mối triển khai Hiệp định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để thực thi Hiệp định, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật trong nước có liên quan nhằm đáp ứng các nghĩa vụ cam kết theo Hiệp định, đặc biệt là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và kiểm tra chuyên ngành nhằm cải cách toàn diện hoạt động kiểm tra chuyên ngành vừa tạo thuận lợi cho hoạt động XNK.

Triển khai các biện pháp kiểm soát đối với thực phẩm, đồ uống, thức ăn chăn nuôi; phối hợp giữa cơ quan Hải quan và cơ quan quản lý chuyên ngành trong thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro, cơ chế ưu tiên trong kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa chuyển phát nhanh qua đường hàng không, hàng hóa bị từ chối do không đáp ứng yêu cầu kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm…

Thúc đẩy việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia nhằm tối ưu hóa các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại; đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro; thu hẹp danh mục phải kiểm tra chuyên ngành, chuyển từ kiểm tra trước thông quan sang sau thông quan, chấm dứt tình trạng chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành; một sản phẩm, hàng hóa chỉ do một bộ, ngành quản lý…, bà Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.

Tại cuộc họp báo, một số phóng viên, nhà báo đặt các câu hỏi xoanh quanh vấn đề: Giảm thời gian thông quan hàng hóa; kết quả trong việc thực thi Hiệp định TFA; năng lực và trách nhiệm của cơ quan quản lý chuyên ngành trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK…

(Nguồn: Đảo Lê – Thư viện Pháp Luật)